RÚT KINH NGHIỆM VỤ ÁN DÂN SỰ: THỜI HIỆU KHỞI KIỆN HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
Ngày 14/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng có thông báo số 78/TB-VKS-DS rút kinh nghiệm về kiểm sát giải quyết vụ án dân sự.
1. Tóm tắt nội dung vụ việc:
Ngày 12/11/2013 và ngày 04/8/2014, giữa bà L và Công ty SG ký kết các Hợp đồng vay số 11-23/HĐV/SG và Hợp đồng vay số 2014/HĐV/SG với số tiền lần lượt là 1.000.000 đô la Mỹ tương đương 21.036.000.000 Việt Nam đồng và 278.000 đô la Mỹ tương đương 5.906.388.000 Việt Nam đồng, thời hạn vay 02 hợp đồng lần lượt là 06 tháng và 05 tháng kể từ ngày ký hợp đồng vay, lãi suất 10%.
Này 09/9/2020, bà L khởi kiện yêu cầu Công ty SG trả tiền nợ gốc số tiền 1.278.000 đô la Mỹ tương đương 29.571.642.000 Việt Nam đồng và khoản tiền lãi phát sinh tư nợ gốc tạm tính đến ngày 16/11/2021 là 728.323,53 đô la Mỹ tương đương 16.862.257.805 Việt Nam đồng; yêu cầu Công ty SG phải tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất 10%/năm cho đến khi trả hết số tiền nợ gốc, tiền lãi.
Bị đơn Công ty SG cho rằng bà L biết hoặc lẽ ra phải biết rằng quyền và lợi ích của bà theo các hợp đồng trên bị xâm phạm lần lượt là ngày 30/6/2014 và ngà 01/02/2015, là ngày các khoản nợ gốc và lãi theo 02 hợp đồng lần lượt đến hạn. Bà L nộp đơn khởi kiện đến Tòa án đã quá thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự là 03 năm, lần lượt là các ngày 30/6/2017 và 01/02/2018. Giữa Công ty SG và bà L không có bất kỳ sự hòa giải, thương lượng hay thừa nhận nào liên quan đến vụ án trên. Công ty SG đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu và đỉnh chỉ giải quyết vụ án theo điểm e khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
2. Quá trình giải quyết vụ án
Ngày 21/3/2022, Tòa án nhân dân tỉnh K thụ lý vụ án theo Thông báo thụ lý số 15/2022/TLST-DS về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Ngày 04/3/2024, Tòa án nhân dân tỉnh K ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 05/2024/QĐST-DS đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 15/2022/TLST-DS ngày 21/3/2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Nguyên đơn kháng cáo với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 05/2024/QĐST-DS ngày 04/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh K.
Tại phiên họp phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị căn cứ điểm c khoản 5 Điều 314 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn; hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 05/2024/QĐST-DS ngày 04/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh K và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.
3. Vấn đề cần rút kinh nghiệm
3.1. Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ tính hợp pháp của các tài liệu do nguyên đơn cung cấp mà xác định hết thời hiệu khởi kiện là ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:
Theo thỏa thuận của các bên tại Điều 3.1 của Hợp đồng vay năm 2013: “Việc hoàn tiền gốc theo quy định tại Điều 1 của Hợp đồng này sẽ không chậm hơn ngày 30/6/2014, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác”; và Điều 5 của Hợp đồng vay năm 2014: “Bên vay phải trả nợ gốc và lãi phát sinh cho bên cho vay không chậm hơn ngày 01/02/2015, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác”.
Theo Vi vằng số 2977/2021/VB-TPLHBT ngày 27/12/2021 (bút lục 152-195) do nguyên đơn cung cấp thể hiện hình ảnh nội dung các thư điện tử trao đổi qua lại ngày 15/12/2015 và ngày 05/01/2016 giữa Kế toán Công ty SG, ông Đinh Xuân Hải S với bà L; nội dung các thư điện tử thể hiện cam kết của Công ty SG sẽ trả nợ cho bà L sau khi hoàn tất việc chuyển nhượng cổ phần.
Theo thỏa thuận trong các Hợp đồng vay năm 2013 và 2014, thời điểm phía Công ty SG phải có nghĩa vụ thanh toán các khaonr vay cho bà L là các ngày 30/6/2014 và 01/02/2015; tuy nhiên, do phía Công ty SG gặp khó khăn về tài chính nên thỏa thuận trả nợ cho phía bà L sau khi hoàn tất việc chuyển nhượng cổ phần. Việc bà L đồng ý với đề nghị từ Công ty SG về việc gia hạn trả nợ sau khi Công ty kết thúc chuyển nhượng cổ phần được xem là thỏa thuận khác trong hợp đồng; nội dung các thư điện tử phía Công ty SG đều thừa nhận và đang gia hạn trả nợ.
Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ tính hợp pháp của các tài liệu do phía nguyên đơn cung cấp làm căn cứ giải quyết vụ án.
Điểm a khoản 1 Điều 157 Bộ luật Dân sự quy định về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện khi “Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ”. Giữa bà L và Công ty SG có trao đổi thư điện tử thì thời hạn Công ty SG phải trả nợ cho bà L là ngày Công ty SG hoàn tất việc chuyển nhượng cổ phần là ngày 11/12/2019 (theo Thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp ngày 11/12/2019 của Công ty SG). Do đó, thời hiệu khởi kiện phải được xác định theo Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015 là 03 năm kể từ ngày 12/12/2019 và phải được xác định đến ngày 12/12/2022. Việc bà L khởi kiện vào ngày 09/9/2020 là trong thời hiệu khởi kiện.
3.2. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng thời hiệu khởi kiện với toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là không đúng, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:
Khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định không áp dụng thời hiệu khởi kiện trong trường hợp “yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”, nội dung này cũng được hướng dẫn tại tiểu mục 2 Mục III Công văn số 02/2021/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 của Tòa án nhân dân tối cao về giải đáp một số vướng mắc trong công tác xét xử.
Vì vậy, đối với yêu cầu đòi tài sản vay (nợ gốc) thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện, bà L hoàn toàn có quyền khởi kiện yêu cầu Công ty SG trả lại tài sản vay (nợ gốc) mà không phụ thuộc vào yêu cầu áp dụng thời hiệu từ phía bị đơn.
Tham khảo Thông báo số 78/TB-VKS-DS ngày 14/10/2024.
____________________________________
Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi:
CÔNG TY LUẬT TNHH AV COUNSEL
Fanpage: https://www.facebook.com/congtyluatavcounsel
https://www.facebook.com/luatsuvadoanhnghiep/
Website: https://avcounsel.com/
Email: info.avcounsel@gmail.com
Hotline: 094.333.4040
Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!
Trân trọng./
Xem thêm